Home Bà tám Vì con là con của mẹ

Vì con là con của mẹ

80

Vì con là con của mẹ

Mẹ tôi có hàm răng đẹp nhất trần đời.

Ký ức đầu tiên của tôi là hàm răng bà. Tôi vẫn nhớ như in, chúng dài và trắng tạc sứ sau đôi môi đang nở rộ nụ cười dữ tợn, ánh lên dưới vầng trăng rằm, nhịp nhàng ẩn hiện khi bà kể chuyện cho tôi. Không phải truyện cổ tích, cũng chẳng phải sách thiếu nhi, là câu chuyện của chính tôi, về cách tôi đến bên bà… hay nói đúng hơn, về cách bà đến bên tôi.

Khi tôi vẫn còn rất nhỏ – quá nhỏ để có thể hình thành ký ức – mẹ lấy cắp tôi từ tay một người đàn ông, và mang tôi tới rừng sống. Bà lấy cắp tôi không phải vì bà yêu tôi, mà là vì bà muốn trả thù. Dù tôi vẫn luôn cầu xin được biết, bà chưa từng một lần nói với tôi lý do trả thù của bà.

Một tối nọ, tôi cuối cùng cũng hỏi, “Sao mẹ không nói cho con?”

“Vì con là con của mẹ,” bà khẽ thầm, giọng bà trầm thấp ướt nhẹp. Những ngón tay thuôn dài đưa lên vuốt ve cánh má tôi. Hàm răng tuyệt đẹp lóng lánh duới trời sao, tráng lệ mà nhợt nhạt như ngà voi sáng loáng. “Con của mẹ sẽ không bao giờ phải nghe, phải nhìn hay phải biết những đọa đày mà mẹ phải chịu đựng.”

Đọa đày không phải là thứ duy nhất mẹ biết còn tôi thì không, nhưng đó là thứ duy nhất bà không chịu dạy tôi. Mẹ tôi gắng hết sức mình dạy cho tôi tất cả những thứ khác mà bà biết. Không may thay, tôi là một đứa học trò dốt nát kém cỏi.

Mẹ là một nữ thợ săn tuyệt hảo. Bà có thể dễ dàng hạ gục những nai sừng tấm to lớn, cả những gấu xám dữ tợn. Đôi khi, bà lại khẽ trườn vào hồ nước mà chẳng đánh động tới một gợn sóng, và mấy giờ sau bà trở lại, ngậm chặt trong miệng một con cá khổng lồ.

Vì đi săn với bà dễ như trở bàn tay, Mẹ đã nghĩ tôi sẽ học rất nhanh thôi. “Con người thường đi săn,” bà rít lên. “Chúng luôn săn bắn từ trước tới nay. Nên con cũng sẽ làm vậy.”

Nhưng tôi không thể đi săn. Tôi không giống bà. Những ngón tay nhỏ mềm của tôi chẳng thể bì được với bộ vuốt chết chóc của bà. Thân hình be bé vụng về của tôi – bằng một cách nào đó chẳng chịu nổi lạnh giá cũng chẳng kháng được nóng nực – luôn lết chậm sau dáng người dài hình chiếc roi, đáng gờm như thú dữ của bà. Mẹ bắt nai, tóm cáo bằng hàm răng đẹp tuyệt, lóe lên trong bóng khuất như mãng xà. Còn bộ nhá cùn của tôi còn chẳng thể nhai nát thỏ trắng.

Tôi cứ kiên trì luyện tập, nhưng chẳng thể tiến bộ. Một tối nọ, khi Mẹ đang trườn bò trong màn đêm, trò chuyện cùng cây rừng và tấn công những sinh vật hắc ám đang rình mò dưới trời khuya, tôi co người lại mà khóc.

Mẹ tìm thấy tôi trong trạng thái ấy, nức nở đầy yếu ớt. Tôi che mặt lại và nín thở. Tôi biết chỉ vô ích thôi – Mẹ có thể nghe nhịp đập tim tôi từ tận phía bên kia của ngọn đồi, nên chắc chắn bà biết tôi đang khóc – nhưng chút tự tôn còn sót lại ấy là tất cả những gì tôi có.

Mẹ đứng đó một lúc lâu. Rồi bà trườn tới bên tôi, phủ lên người tôi một lớp lá xanh rồi nằm bên cạnh tôi. “Mẹ sẽ cho con ăn, mãi mãi,” bà thì thầm. “Vì con là con của mẹ.”

Ngoài săn bắn, mẹ tôi còn là một thợ xây nơi trú đáng kinh ngạc. Đôi khi bà sống trong lòng đất, bò trườn giữa những đất sét và rễ cây như những con rồng canh gác kho báu ngàn năm cổ xưa.

Đôi khi, bà lại sống trên những tán cây cao. Nhiều đêm, tôi thường ngắm bà trong nỗi kính sợ khi từng khúc xương của bà giãn dài, đâm toạc làn da cứng mà trồi ra, mọc ra thẳng đứng rồi quấn quanh những cành cây như một nữ chúa loài nhện cả nghìn năm tuổi. Tôi thường ngồi kiên nhẫn chờ, đôi khi tới cả mấy tiếng đồng hồ, đợi Mẹ đàm luận cùng những tinh linh đang chôn sâu nơi rễ già.

Và đôi khi, bà sống trong những bóng khuất, trườn người qua màn đêm đen để kiếm ăn và diệt mọi mối nguy.

Vậy nên, Mẹ cố dạy tôi cách đào hang. Nhưng tôi chẳng thể nào đào giống bà. Tôi quá nhỏ bé, quá mềm mại và quá sợ hãi trước những sâu bọ và chuột chũi lần mò trong lòng đất.

Vậy nên, Mẹ cố dạy tôi cách sống trên những tán cây cao, để nghỉ ngơi, để nghe bóng cả thầm thì những mẩu chuyện lịch sử dài và kì lạ của Trái Đất. Nhưng xương tôi nào thể kéo dãn như mẹ, tay tôi nào thể quấn quanh như cành cây, da tôi nào thể dính chặt lấy vỏ cây, và máu tôi nào thể hòa cùng với nhựa cây.

Vậy nên, Mẹ cố dạy tôi cách sống trong những bóng khuất. Nhưng tôi sợ đêm tối lắm. Mỗi khi màn đen tràn khắp không gian, tôi lại trốn đi mà khóc, trong đầu cứ vẩn vơ hình ảnh con rết trăm chân bò khắp da mình. Tất cả những sinh vật sống về đêm được dịp náo loạn trong nỗi sợ thảng thốt của tôi ; cú đêm sà xuống trêu chọc tôi, dơi đen phóng thẳng về phía tôi, khúc khích mà ré lên tiếng cười chát chúa cho tới khi Mẹ quật chúng đi khỏi.

Cuối cùng, Mẹ cũng nhận ra những bài học ấy đều chỉ hóa vô nghĩa. Nên bà đã đào một chiếc hố thật sâu, chỉ dành cho tôi. Bà lấy lá cây bao quanh, ăn hết những sâu những gián bò khắp thành hố. Khi bà xong xuôi, tôi òa lên mà khóc.

“Sao con lại khóc?” bà cất giọng hỏi khàn đặc.

“Vì mẹ làm mọi thứ vì con.” Tôi biết luật rừng là như thế nào. Tôi biết luật của những sinh vật nơi đây và những đứa con của chúng. Những đứa con mà nếu yếu ớt thì sẽ bị giết chết ngay từ tổ. Những đứa con mà nếu không học cách tự vệ thì sẽ bị bỏ mặc mà chết. Tôi yếu ớt, tôi mềm oặt và khắp người tôi là những vết sẹo xấu kinh người. “Sao mẹ lại làm mọi thứ vì con?”

Mẹ trườn tới, những bàn tay dài lớn cắm chặt xuống đất. Bà cuộn người quanh tôi và kéo tôi vào trong lòng. “Vì con là con của mẹ.”

Không phải lúc nào mẹ cũng sống cùng tôi trong hang sâu. Bà lang thang khắp núi cao. Bà chui xuống lòng đất cùng chuột chũi, trườn bò cùng mãng xà, ăn cỏ cùng nai, săn mồi cùng sói, và bầu bạn cùng cây.

Khi tôi còn rất nhỏ, tôi cứ ngỡ thức ăn của bà là khu rừng. Nhưng chuyện đâu đơn giản như vậy; bà bảo vệ khu rừng, và đổi lại khu rừng tiếp sinh lực cho bà. “Trái tim mẹ,” bà thủ thỉ với tôi trong một đêm mưa trắng trời, “là khu rừng này, nên chuyện mới là như vậy.”

Khi tôi dần khôn lớn, tôi cũng học được những kỹ năng tồn tại cơ bản. Tôi tránh không tham gia những cuộc săn lớn – nai và hươu, gấu xám và heo rừng – vì tôi không phải là người bảo vệ khu rừng. Tôi không dâng lên khu rừng gì cả; tôi chỉ lấy đi, nên tôi cố lấy ít nhất có thể. Tôi bẫy thỏ, bắt cá, và ăn dâu dại. Tôi chẳng dám vọng tưởng tới thứ gì khác.

Một khi tôi đã có thể tự lo ăn uống, Mẹ cũng rời xa tôi lâu hơn. Hàng giờ kéo dài thành hàng ngày, và cuối cùng là hàng tháng trời tôi chẳng thấy bà đâu. Cùng với nỗi nhớ bà khôn xiết là cả nỗi đau cắt sâu, pha lẫn nỗi hoảng loạn mất lối.

Tôi đối chất với bà vào một chiều xuân thoảng hương. “Càng ngày mẹ càng bỏ rơi con lâu hơn,” tôi tố cáo bà. “Sớm muộn gì mẹ cũng sẽ mãi mãi rời xa con.”

“Không bao giờ,” bà khẽ kêu. Một làn gió nhẹ thổi quanh hai người chúng tôi, khiến lỗ chân lông tôi dựng đứng và mái tóc bạch kim của bà phấp phới bay. “Mẹ sẽ không bao giờ rời bỏ con.”

“Nhưng mẹ có mà!” tôi gào lên. “Mẹ đã rời bỏ con rồi đấy!”

“Trước khi con tới, mẹ sống trên những cây cao bóng cả, lắng nghe lời chúng cảnh báo. Mẹ ngủ trong lòng đất ấm, để sâu bọ cùng rắn rết gặm nhấm da mẹ. Mẹ đã dành rất nhiều đời người vẫy vùng trong rừng già, đứa nhỏ à – nhiều tới nỗi tên mình mẹ đã quên từ lâu. Mẹ đã rời khỏi khu rừng này, vì con.”

“Con đâu tới nơi này,” tôi thút thít. “Mẹ mang con tới mà!”

“Đúng vậy,” bà nói. “Nên mẹ sẽ không bao giờ rời bỏ con. Khi con nghĩ mẹ đã rời đi, hãy im lặng và lắng nghe. Lắng nghe tiếng mẹ như cách mẹ lắng nghe tiếng cây lớn, tiếng thú rừng và tiếng sao xa. Nếu con thật tâm mà im lặng, con sẽ nghe thấy mẹ.”

Và rồi, bà bỏ tôi mà đi.

Phẫn nộ và ghen ghét bùng lên trong con tim tôi như lửa rừng. Bà xỉ vả tôi, bà làm nhục tôi, và sau tất cả những chuyện đó, bà rời bỏ tôi. Bỏ mặc tôi lại nơi đây, toàn là rết với sói, cả những lũ dơi ngu ngốc kêu rít suốt ngày.

“Tôi không cần bà!” tôi gào lên. Một con cú giận dữ kêu lên như để đáp trả. “Tôi chẳng cần bà làm gì!”

Rồi tôi chạy tới hang sâu của mình. Khi trước mặt tôi hiện ra cánh cửa đắp đất, mọc đầy hoa với cỏ dại, trong tôi lại nung nấu cơn giận lửa cháy, chiếm đoạt cả tâm trí tôi như một khối cầu hoang dại sinh ra từ những sợ hãi và tự ti vô tận của chính tôi. Và khối cầu ấy nói với tôi, rằng, “Sao ngươi phải quay trở lại cái hang đó chứ?” Ừ, tại sao chứ? Đây đâu phải hang của tôi. Là hang của Mẹ mà. Cả khu rừng này đều là của Mẹ. Không có bà, khu rừng đã nuốt chửng tôi từ lâu lắm rồi.

Nên tôi quay về hướng khác và tiếp tục chạy. Mình sẽ tìm điểm kết của khu rừng này, tôi quyết định vậy. Mình sẽ ra khỏi khu rừng này, mãi mãi.

Tôi chạy tới không biết bao nhiêu ngày, trên đường tranh thủ hành hạ khu rừng. Tôi vặt sạch lá cây để làm đệm êm gối đầu. Tôi lấy đá ném chim, ném thỏ. Tôi nhổ những bụi cây, bứt hết dâu rừng và ăn cho tới khi phải nôn thốc nôn tháo vì quá nhiều. Rồi tôi lại ăn tiếp. Không phải vì tôi đói, cũng chẳng phải vì tôi cần, mà vì tôi muốn đày đọa khu rừng.

Và rồi tới một ngày, khi xuân đã cất bước ra đi từ lâu, nhường cho khí hạ tràn về mang theo nóng bức và cả hoa màu xanh mởn, tôi nghe thấy những giọng nói.

Ngay lập tức, tôi đơ cứng người. Giọng nói duy nhất tôi từng nghe là của Mẹ – ướt nhẹp và trầm thấp, một tiếng thì thầm như đất cát, rung chuyển cả xương cốt. Nhưng những giọng nói này mới khác làm sao, cao vút, non nớt, tông giọng như rít lên kì lạ.

Những giọng nói này… thật giống giọng tôi.

Cả người không thể ngừng run rẩy, tôi cúi người thật thấp và trườn bò giữa những bụi cây. Tán lá ấm nắng vàng chải qua mặt tôi, trơn bóng nhưng sắc bén đau đớn sau nhiều ngày bị mặt trời bào mòn. Tôi trườn trên mặt đất, giả bộ như mình là Mẹ, lướt đi khắp khu rừng như con mãng xà vô hình.

Khi tới nơi hàng cây dày chặn lại, tôi đưa mắt ló ra nhìn.

Đứng giữa vùng trống nhỏ kia là bốn sinh vật. Da chúng màu hồng và chúng đang mặc một bộ đồ rất nặng, nhìn mới tắc thở làm sao. Tay chúng bé xíu và mềm mại. Mặt chúng trơn láng như trẻ con, nhìn lỡ dở thật kì lạ: đôi mắt to tròn, cánh mũi mềm và làn da sáng màu.

Tôi sờ lên mặt mình – cũng trơn bóng, phẳng lì – và nhìn xuống người mình: bám đầy bùn đất, rám nắng tới đen sì, đâu đâu cũng thấy những vết sẹo ngang dọc xấu xí, nhưng vẫn mềm. Không có lông dày, bé tí, và yếu ớt. Vậy là đúng rồi. Những sinh vật trong rừng này đây – những sinh vật mặc quá nhiều đồ trên người, lỡ dở kì lạ với hàm răng bé tẹo, chẳng có vuốt sắc mà mắt cũng chẳng to – chúng đều giống tôi.

Chúng là con người.

Tôi đứng bật dậy và chạy vụt tới trong nỗi hào hứng thảng thốt. Những người kia đồng loạt đơ cứng không nhúc nhích.

“Cái gì thế kia?” một tên thì thào. Tay y nhấc lên một thứ gì đó và chĩa về phía tôi, một thứ dài dài và kì lạ. Một thứ chẳng thuộc về thiên nhiên, chẳng phải vật sống, với một tay cầm bằng gỗ và một ống đen ánh lóa.

Lúc ấy, tôi chợt nhận ra một điều: cả khu rừng đã im lặng. Vài chú chim vẫn ríu rít ca lên, vài con bọ vẫn cất tiếng vo ve như thường. Nhưng phần lớn các sinh vật kia – chim chóc, sâu bọ, cây cối – đều lặng im. Không có thỏ, không có hươu, cũng chẳng có gấu. Những thứ này – những sinh vật giống tôi này, những con người này – đã khiến đất mẹ phải lặng câm.

Chúng đã lấy cắp khu rừng từ chính tay nó.

Chúng tôi cứ vậy mà nhìn nhau không biết bao lâu, bao quanh là khí hạ nóng bức đang tràn đầy vùng trống như hồ bơi vô hình.

“Mẹ ơi,” tôi thì thầm. “Mẹ ơi, cứu con với.”

Nhưng bà đã không cứu tôi. Nên tôi quay đầu đi mà chạy.

Những con người kia ngay lập tức đuổi theo. Tôi nghe thấy tiếng chúng: chúng gào, chúng dẫm nát những sinh linh dưới mặt đất, đạp lên hoa màu sâu bọ, bẻ gãy cành cây trên đường chúng chạy. Vẻ im ắng chết chóc của khu rừng còn tồi tệ hơn tiếng gào khóc thảm thương.

“Nó đây rồi!” một người hét lên. Một giây sau, khu rừng nổ tung: một tiếng boom điếc tai làm rung chuyển những tán cây dày, gặm nát không gian xung quanh cùng lúc vai tôi nhói lên một nỗi đau không tưởng. Tôi chẳng dám dừng lại hay nhìn, chỉ biết cúi đầu mà chạy, nước mắt đầm đìa khắp mặt cố thoát khỏi đám người đang đuổi theo sau.

Dường như khu rừng đang trừng phạt tôi vì những tội ác trước kia. Những bụi mâm xôi cào xước cẳng tôi. Đá sắc cắt lẹm chân tôi. Cành cây đập vào mặt tôi, để lại những dòng suối đỏ sâu hoắm và nhức nhối. Tôi cảm ơn khu rừng, vì đã nhân từ với tôi, vì đã trừng phạt tôi, thay vì chặn tôi lại.

Đám người thở hồng hộc và gào lên với nhau. “Kia là cái gì đấy?” “Tôi không biết. Tôi không biết!” “Kia…kia có phải trẻ con không?” “Nhìn mặt nó đi. Nhìn cái mặt của nó đi! không phải trẻ con đâu!”

Tai tôi đột nhiên ngập tràn một thứ gì đó, nhấn chìm tiếng của đám người, của cả khu rừng. Một nguồn âm ào ạt trầm thấp, êm tai tràn tới, như bài ca của loài chim hóa thành dòng suối dữ.

Và rồi Mẹ tới, trồi lên từ hàng cây dày như con thú trăm tuổi vĩ đại. Nhưng sau tất cả, bà là vậy đó. Một con thú vĩ đại, có lẽ là một nữ quỷ từ cổ chí kim.

Bà xông tới đám người kia, lấy tay vồ lên chúng như con mèo nhà vồ lấy đồ chơi. Bà kẹp chặt một tên bằng bộ vuốt cho tới khi đầu y đứt ra, lăn lông lốc trên thềm rừng.

Mẹ bắt từng tên một và xé toạc chúng thành từng mảnh, như cách bà xé lá dựng nên chiếc giường êm cho tôi nằm. Máu đỏ vấy khắp rừng già, biến đất khô thành bùn lầy, chảy giọt từ lên cây như những hạt mưa nhớp nháp.

Mẹ ghim chặt vuốt sắc vào hộp sọ của kẻ sống sót cuối cùng và tách ra làm đôi như tách trái cây. Máu cùng não xám ánh lên dưới ánh trời chiều. Người đàn ông gào lên, gào, cứ gào mãi.

Mẹ cúi xuống, thè lưỡi ra. Chiếc lưỡi màu cam-vàng nhợt nhạt như hoàng hôn của một sớm mai vương giá vươn dài, tinh tế húp não y. Từng xoắn một, như lũ sâu trên thành hang nơi tôi ở.

Tới khi tên kia ngừng gào, vẻ rạng rỡ ồn ã quen thuộc của khu rừng đã quay trở lại: những tán cây thì thầm, những chú chim ca hát, những sâu bọ vo ve, những hươu nai gặm cỏ.

Tôi mỉm cười và chạy tới bên Mẹ. Bà đứng thẳng dậy và hét lên, “Nhìn xem con đã làm gì đi!”

Tôi đơ cứng lại trong nỗi kinh sợ, vô lực nhìn bà – đôi ngươi rực lửa, khuôn mặt méo mó bám đầy đất đá và hoa dại, những khúc xương nhợt nhạt, bào mòn dưới nắng gắt ngày hè, xơ vữa thối rữa. Mẹ tôi, người mẹ quỷ đẹp tuyệt của tôi, người đã đưa tôi đi vì muốn trả thù và vì thế mà đành gánh trọng trách nuôi dạy tôi, đang nhìn tôi như thể tôi là con người.

“Khi con ném đá vào một chú chim, tim mẹ lỡ một nhịp! Khi con bẻ gãy một cành cây, xương mẹ cũng gãy theo! Khi con ích kỷ mà vặt hết quả của một bụi cây, chặt đứt mệnh sống của chúng, da mẹ sưng tấy lên! Khi con làm tổn thương khu rừng,” bà gầm lên, “tim mẹ ứa máu!”

Tôi ngã khuỵu xuống, giấu nhẹm mặt đi. Mẹ xông tới trên cơ thể không biết bao nhiêu tay chân, lấy những ngón tay dài quấn quanh họng tôi. Bà nhấc bổng tôi lên, lơ lửng trên thềm rừng. “Mẹ đã giết con người vì con! Giờ thêm nhiều tên khác sẽ kéo đến! Chúng sẽ dẫm đạp! Chúng sẽ chặt bổ! Chúng sẽ đốt cháy! Chúng sẽ giết hại! Chúng sẽ giết những gấu xám, những báo, những sói, và chúng sẽ đổ lỗi cho thú dữ vì những gì mẹ đã làm vì con! Con có hiểu không?” Bà lắc tôi. Vụ thảm sát dưới chân tôi như đang đung đưa, như tấm thảm làm từ đất nhuốm máu và xác người không toàn vẹn. “Con có hiểu không hả?”

“Có, thưa Mẹ,” tôi thì thào. “Con hiểu.”

Bà thả tôi xuống. Cú đáp đất mạnh tới nỗi tôi suýt thì ngất đi. Mẹ lùi lại, đi tới bên một xác người và làm gì đó. Tôi ngước lên, cơ thể vẫn không khỏi run rẩy. Những chú chim nhìn xuống từ trên cành cao, nhanh nhảu và hiếu kỳ, ánh mắt như lên án tôi. Tôi quay đầu đi hướng khác khi cảm nhận được lệ nóng đang dần tràn mi.

Mẹ quay lại bên tôi. Bà vươn cánh tay ra, xòe bàn tay khổng lồ đang cầm bốn tròng mắt và một trái tim lớn, ánh lên rực rỡ. Tôi đờ người ra mà nhìn, rồi lại ngước mắt lên.

“Bốn con mắt,” bà nói. “Cho bốn con người. Và trái tim của tên người đã bắn con. Ăn đi.”

Môi tôi run bắn lên. Tôi không thể rời mắt khỏi đống lầy bầy máu me trên tay mẹ tôi. Một trái tim, bốn con mắt. Đỏ hỏn, mọng nước, chỉ vài phút trước vẫn còn sự sống.

“Mẹ ơi,” tôi nói. “Con xin mẹ đó.”

“Con thuộc về mẹ?” bà hỏi. “Hay con thuộc về người?”

Khu rừng lại im lặng, vẻ im lặng đau thấu xương. Thú vật, cây cối, sâu bọ, mọi sinh linh đều đang nín thở chờ đợi.

“Con thuộc về Mẹ, thưa Mẹ.” Tôi cầm lên con mắt đầu tiên, tròn và cứng tới kì lạ, với một kết cấu cưng cứng, ọc nước mà tôi thường thấy ở những loại quả đã nửa thối. Những sợi thần kinh hồng như giun cứ đung đưa lơ lửng. Trong một khắc tồi tệ, tôi cứ ngỡ mình sẽ nôn mất.

Rồi tôi đưa lên trước miệng và cắn.

Những con mắt vốn đã tồi tệ, nhưng quả tim kia còn kinh khủng gấp nghìn lần: dày và gần như không thể nào nhai nổi. Mẹ phải xé ra cho tôi, cắt thành những miếng cỡ vừa bằng hàm răng đẹp tuyệt ấy.

Khi tôi xong xuôi, Mẹ bế tôi lên, ôm tôi chặt vào lòng, và lao như tên bắn về phía hang sâu khi đêm đen đã vừa gõ cửa.

Tối hôm đó, tôi bị ốm. Tôi run lẩy bẩy, sinh ảo giác hết ngày này qua ngày khác. Tâm trí tôi ngập tràn những hình ảnh của những con mắt lơ lửng, những trái tim óng ánh, những hộp sọ bẻ làm đôi như lựu đỏ. Mẹ luôn túc trực bên tôi, vỗ về tôi bằng những bài hát cổ xưa như bài ca của loài chim hóa thành suối dữ, thổi mát tôi bằng hơi thở ẩm ướt của đất rừng.

Cuối cùng thì cơn sốt cũng qua đi. Tôi ngồi dậy, thở dốc khi những vết tích cuối của cơn ác mộng dài dần tan biến.

Mẹ ngồi phía bên kia của hang, người khục xuống đầy mệt mỏi. “Con khỏe rồi,” bà nói. “Mẹ mừng lắm, vì mẹ phải rời đi rồi.”

Tôi rã rời chớp mắt. “Tại sao?”

“Con người,” bà nói.

“Nhưng mẹ đã giết hết chúng rồi mà.”

“Vẫn còn nữa,” bà nói. “Chúng bò trườn vào khu rừng, tìm kiếm những người anh em đang mất tích của chúng. Chúng đang chặt cây, đang dẫm nát hoa cỏ, đang giết hại gấu, đứa nhỏ à. Nếu mẹ không ngăn chúng lại, chúng sẽ tìm tới cả con. Mẹ phải ngăn chúng lại. Trái tim của mẹ là khu rừng, và cả con nữa. Mẹ phải bảo vệ cả hai.”

Họng tôi nghẹn ứ một cục lớn. Một nỗi tủi hổ xa lạ dâng tràn trong tôi. “Con xin lỗi nhiều lắm.”

“Con là con của mẹ. Trẻ con thì phải học hỏi. Học hỏi, thì chúng mới trưởng thành được.”

“Mẹ ơi,” tôi nói. “Có thật là con thuộc về người không?”

Mẹ nhắm nghiền mắt. Bà im lặng, lâu thật lâu. Rồi bà hít một hơi thật sâu. “Mẹ lấy con từ một tên đàn ông tàn nhẫn. Nghe này. Giờ mẹ sẽ kể cho con những đọa đày mà mẹ phải chịu đựng.”

Tôi lắng nghe say mê và kinh hãi, khi bà cất lên lời kể câu chuyện thảm thương.

Mẹ đã từng là một người phụ nữ trẻ đẹp.

“Bây giờ mẹ vẫn đẹp lắm mà,” tôi phản đối.

“Nghe mẹ kể đây!” bà nói.

Mẹ cô độc giữa gian thế. Bà không có người thân, cũng chẳng có bạn bè. Bà đã từng có một gia đình, nhưng họ đã làm tổn hại bà rất lớn nên bà bỏ trốn. Bà sống trong rừng, trong một căn lều nhỏ rách rưới. Bà ăn dâu dại, bắt cá, và đun nước mà uống.

Luật lệ thật kì quặc. Dù Mẹ chẳng làm hại cái gì hay làm đau ai, chỉ sống trong rừng thôi cũng là trái pháp luật rồi. Bà bị tìm thấy, bị bắt và bị tống vào tù. Bị tách rời khỏi cây cối và chim muông, Mẹ nhanh chóng yếu đi. Dù chỉ phải ngồi tù trong một thời gian ngắn, bà cũng suýt thì bỏ mạng. Cái ngày bà được thả tự do cũng là ngày tuyệt vời nhất trong đời bà…

Bà cứ ngỡ như vậy.

Ngay khi bà đang thu thập chút tài sản cá nhân khiêm tốn và ra khỏi nhà tù, một tên cai tù đi tới bên bà. “Cô đi đâu đấy?” y hỏi. “Cô muốn đi đâu, ta sẽ đưa cô đi.”

Mẹ vui lắm. “Đưa tôi về khu rừng đi,” bà nói. Cai tù đồng ý, và đưa bà tới khu rừng. Nhưng y lại dừng xe quá sớm, tại một căn nhà. Nhà của y.

Cai tù là một người đàn ông tồi tệ. Y nhốt Mẹ lại. Y làm bà đau, tra tấn bà, trút lên đủ mọi khổ đau. Y mổ xẻ bà, y thiêu đốt bà, y bẻ gãy xương bà.

Và y làm bà mang thai. Mẹ vỡ vụn tới nỗi y bỏ sót toàn bộ các dấu hiệu của thai kì. Khi tôi chào đời, Mẹ qua đời.

“Y đổ vào người mẹ một vạc axit,” Mẹ nói với tôi, “và đem những mảnh thân thể đã hóa thành chất lỏng vứt khắp khu rừng. Nhưng rồi mẹ nghe thấy con.” Mẹ cười, một nụ cười thoáng qua. Đất đá rễ cây từ trên mặt mẹ rơi xuống. “Mẹ nghe thấy tiếng con khóc. Nghe thấy tiếng con cần mẹ.”

Tôi không hiểu những lời tiếp theo của Mẹ; tôi không biết phải dịch lại như thế nào. Nhưng nôm na là như này. Ai cũng hát một bài hát cho người họ yêu thương. Hầu hết ta không thể nghe những bài hát ấy. Nếu không nghe được, thì nó không thể giúp ta. Nhưng nếu ta nghe được, bài hát đó là thứ quyền lực nhất trên thế giới này. Nó giết. Nó kêu. Nó nuốt. Nó diệt. Nó giúp ta mạnh hơn.

Và đôi khi, nó hồi sinh.

“Khi mẹ đã thành hình lại, đã hít thở lại, mẹ lấy cắp con từ cha con,” Mẹ nói. “Rồi mẹ mang con tới đây, vì con là con của mẹ.”

Tôi âm thầm khóc, vì tôi chẳng biết phải nói gì.

“Mẹ phải đi rồi,” bà nói. “Cây cối thú vật cần mẹ. Nên nhớ nhé, đứa nhỏ. Khi con thật tâm mà im lặng, con sẽ nghe thấy mẹ.”

Rồi bà quay đi – như sói, rắn và ưng kết hợp lại trong một hình hài – và rời khỏi.

Bà không quay trở lại.

Ban đầu, tôi chẳng nghĩ gì nhiều. Tôi đã gây nên một mớ hỗn độn tồi tệ; tôi đã mang con người tới. Tôi đã khiến khu rừng phải đổ máu. Mẹ còn nhiều việc phải làm lắm.

Nhưng hạ dần phai màu thành thu, và Mẹ vẫn không quay trở lại. Khi đợt tuyết đầu mùa kéo tới – khô khốc lạnh lẽo, rơi vãi khắp cảnh quang như phấn trắng – tôi biết có chuyện không hay.

Tuyết ngày một dày. Khu rừng chìm vào giấc ngủ đông, khoác lên mình tấm áo choàng làm từ sương giá và băng lạnh. Đêm nào, tôi cũng thật im lặng. Tôi thủ thỉ những lời thật tâm nhất có thể. Và tôi lắng tai nghe tiếng của mẹ tôi.

Chẳng có gì cả.

Tôi gầy rộc đi và lăn ra ốm. Dù tôi run rẩy lạnh cóng, da tôi vẫn như cháy rộp. Ngực tôi nghẹn ứ, họng tôi đau tới nỗi tôi chẳng thể ngủ nổi. Hơi thở thường ngày hóa thành những tiếng khò khè sắc bén đau điếng. Tôi dần cạn cả sức để có thể ra khỏi hang, chỉ biết bò tới cửa và ăn tuyết. Bữa ăn của tôi giờ là đám giun bò nơi thành hang.

Chỉ nhiêu đó thôi không thể nào đủ được, tôi biết mà.

Chỉ khi ấy – trong cái câm lặng yên bình nhuốm màu sợ hãi khi cái chết đang tới gần – tôi mới thật sự im lặng. Chỉ khi ấy, tôi mới nghe thấy tiếng nói nơi mẹ.

Tôi nghe thấy bà trong giấc mơ: một nguồn âm ào ạt trầm thấp, êm tai tràn tới, như bài ca hóa thành suối dữ. “Mẹ đang tới,” bà nói. “Mẹ đang tới rồi, vì con là con của mẹ.”

Tôi mỉm cười, và ngủ.

Tới khi tôi tỉnh dậy, tôi thấy lạnh làm sao. Lạnh, ướt và run lẩy bẩy, nhưng đang tỉnh. Tôi bật dậy và gào lên khi chạm tới làn da trải dày hoa của mẹ tôi. Tôi quay người lại, cười toe toét, rồi cứng đơ người.

Mẹ đang nằm cạnh tôi, thở dốc. Máu tươi rỉ ra từ một nghìn vết thương, bám rịt lấy tóc bà. Những khúc xương trắng phớ đang lòi ra trên khuôn mặt bà, vỡ vụn và bẻ cong, để lộ toàn những máu thịt be bét. Với đôi mắt vẫn nhắm nghiền, bà mỉm cười. “Mẹ nghe thấy con rồi. Mẹ nghe thấy bài ca của con rồi.”

Mắt tôi nhòe lệ nóng. Ngực tôi đập như trống dồn. Tôi không thể thở ra hơi; như thể tôi đang ốm trở lại, ngập ngụa trong mủ vàng và chất lỏng. Chỉ là lần này, tôi không gần đất xa trời.

Nhưng mẹ tôi thì có.

“Vậy thì ở lại đi mẹ,” tôi nói. “Mẹ phải ở lại, vì mẹ đã nghe thấy bài ca của con mà.”

“Không,” bà nói. “Con cần được gặp lại mẹ. Nhưng con không cần mẹ.”

“Con cần mẹ. Mẹ ơi, con cần mẹ mà.”

“Không,” bà nói. “Mẹ đã giết hết những người có thể hại con rồi.”

“Nhưng còn khu rừng thì sao? Không có mẹ khu rừng sẽ giết con mất!”

Bà bật cười. Bà thở ra một hơi, nhanh tới đau lòng và mỗi chốc một yếu. “Con thuộc về mẹ. Nhớ nhé. Con thuộc về mẹ. Con là con của mẹ.”

Mẹ tôi – người mẹ tuyệt đẹp, cổ xưa của tôi – thở một hơi nông, và nằm im.

Tôi nằm cạnh bà suốt nhiều ngày. Rồi, khi thân thể bà bắt đầu bốc mùi, tôi rời đi. Về sau, một người leo núi tìm thấy tôi. Một người leo núi ngu ngốc và đơn độc, dễ mủi lòng, cực kỳ nhẫn nại và chẳng sợ điều gì.

Khi tôi học được ngôn ngữ của loài người, chính quyền ngay lập tức nói rằng Mẹ không phải là người mẹ thật sự của tôi.

Họ tìm thấy thân thế của tôi (ít nhất thì theo một khía cạnh nào đó) bằng DNA. Mẹ thật của tôi, họ nói, là một người tha hương. Một Jane Doe sống trong túp lều dựng ở công viên quốc gia. Cô đơn độc và yếu ớt, hai điều cực kỳ thu hút những con quái vật đội lốt người. Sau một khoảng thời gian ngồi tù ngắn vì tội lai vãng, mẹ tôi bị bắt cóc, nhốt lại, và tra tấn bởi tên hung thủ vẫn chưa thể xác định, rồi y cố phân hủy mẹ tôi bằng axit, nhưng thất bại. Họ nghĩ y cũng đã thử làm thế với tôi. Vì vậy nên người tôi mới chằng chịt vết sẹo như thế này. Cũng vì vậy mà những thợ săn kia mới sợ tôi tới thế: những vết sẹo bỏng axit đã biến tôi thành một con quái vật.

Vì mẹ thật của tôi có vẻ như đã chết từ lâu lắm rồi, họ kết luận rằng Mẹ – cho dù bà là ai – chỉ là một kẻ lạm dụng trẻ con điên cuồng, vô gia cư.

Nhưng tôi biết nhiều hơn họ.

Dù vậy, tôi vẫn thích nghi với hoàn cảnh. Tôi chẳng còn lựa chọn nào khác. Ít nhất thì cơ thể tôi vẫn không thích nghi sau một thời gian sống với loài người. Miệng tôi đang thay đổi. Thay đổi thành một thứ mà người thường thấy thật kinh tởm, nhưng tôi mới mừng làm sao. Là răng tôi.

Răng tôi đang dần hóa thành hàm răng tuyệt đẹp của mẹ tôi.

Đứng trước gương và nhìn vào răng mình, tôi vừa sợ hãi, lại háo hức làm sao. Niềm vui cùng nỗi kinh hãi đồng loạt chạy khắp mạch máu tôi. Chắc chắn điều này đang báo hiệu một thứ gì đó. Nên tôi im lặng. Tôi thật tâm. Tôi lắng nghe.

Và tôi nghe thấy.

Tôi nghe thấy giọng mẹ tôi: một nguồn âm ào ạt trầm thấp, êm tai tràn tới, như bài ca hóa thành suối dữ. Bà nói rằng tôi không thuộc về loài người, vì tôi là trái tim bà, và trái tim bà là khu rừng kia. Bà nói rằng tôi phải quay về.

Và bà nói bà đang đợi tôi, vì tôi là con của bà.
_

Nguồn: Facebook

 

 

 

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here